VĂN HỌC NGHỆ THUẬT HÒA BÌNH
DÒNG CHẢY HỢP LƯU CÁC THẾ HỆ
VÀ NHỮNG THÁCH THỨC MỚI.
Hòa Bình là một trong những vùng đất được xem là cái nôi của người Việt cổ. Từ thuở đất trời còn “pời lời, pạc lạc”, với thiên năng sinh tồn và phát triển - người đẻ người và chính con người đã đẻ đất, đẻ nước và sản sinh ra một nền văn hóa bản địa.
Các sử thi của người Mường, người Thái ở Hòa Bình với những roóng mo được truyền khẩu qua bao thế hệ mà ngày nay chúng ta còn lưu giữ được cho thấy: Những nhận thức về vũ trụ, về đời sống con người trước một thế giới siêu nhiên. Theo chiều dài lịch sử, từ những nhận thức ấy mà hình thành một thế giới tâm linh bao trùm và chi phối hầu hết các mặt trong hoạt động đời sống mang tính xã hội và trong hoạt động đời sống cá nhân con người trong cộng đồng các dân tộc ở Hòa Bình.
Nói “Văn hóa Hòa Bình” là nói một thuật ngữ về một nền văn minh của các tộc người thuộc một phần lãnh thổ Việt Nam bao gồm các tỉnh như Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa và trải dài ra một số nước trong khu vực Đông Nam á, nhưng cơ bản trung tâm vẫn thuộc lãnh thổ Hòa Bình. Có được một nền văn hóa với bản sắc riêng và độc đáo như vậy hẳn nhiên là phải có những ngọn cờ, phải có những thủ lĩnh mà ngày nay chúng ta gọi là những nhà hoạt động văn hóa. Họ là ai? Họ chính là những già làng, trưởng bản, những thầy mo, thầy mỡi và một số nhóm người đã có công truyền tụng, phát triển những roóng mo, những bài dân ca, những điệu dân vũ cũng như cách chế tác các nhạc cụ... Nhìn từ góc độ văn bản, không ít trong số những già làng, trưởng bản, những thầy mo, thầy mỡi, những người sáng tác và phát triển các làn điệu dân ca thời ấy đã mang hơi hướng và ít nhiều đảm trách thiên chức của nhà văn. Tôi gọi họ là những nhà văn Nhân dân. Họ từ nhân dân bước ra và thực sự là của nhân dân. Mặc dù không hoặc chưa có chữ viết, những nhà văn nhân dân đã dùng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình để truyền tụng và phát triển văn hóa dân tộc mình.
Hòa Bình với vị trí chiến lược là cửa ngõ của vùng Tây Bắc với trung du và đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là thủ đô Hà Nội nên cũng chịu sự giao thoa và khúc xạ văn hóa các dân tộc Hòa Bình với các vùng lãnh thổ khác. Nếu không có văn hóa của nhân dân các dân tộc Hòa Bình thì không thể có tác phẩm “Hoa hậu xứ Mường” của nhà văn Phượng Vũ. Và nếu không có tiểu thuyết “Hoa hậu xứ Mường” của nhà văn Phượng Vũ thì ngày nay ít ai biết được Hòa Bình từ những năm của thế kỷ trước đã từng có những giai nhân đi thi và được phong hoa hậu của xứ Mường. Nói theo cách của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thì Hòa Bình cũng chính là thủ phủ của “Miền gái đẹp”. Những người con gái đẹp cả người lẫn nết, xứng đáng được sắc phong tám chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Con người và đất nước Hòa bình từ lâu đã là nguồn cảm hứng vô tận của thi ca, nhạc họa. Hòa Bình trong thơ của Tàn Đà, Hòa Bình trong thơ của Quang Dũng, trong tùy bút “Sông Đà” của Nguyễn Tuân, trong “Hồn chiêng” của Đinh Đăng Lượng, trong “Rượu núi” của Lò Cao Nhum và của nhiều tác giả khác sẽ mãi mãi khắc sâu vào tâm khảm người đọc, để rồi đất nước và con người Hòa Bình là một thực thể, một phần máu thịt không thể tách rời mỗi khi đọc và nghĩ về Hòa Bình, một vùng đất còn nhiều gian khó mà sao cứ vời vợi yêu thương.
Trong những năm cả nước tập trung nguồn lực xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình trên sông Đà, nhân dân các dân tộc Hòa Bình đã chung tay cùng cả nước xây dựng thành công nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam á thời đó và xây dựng thành công tượng đài vĩ đại của tình hữu nghị Việt - Xô và, cũng đồng thời nuôi dưỡng những tài năng văn học. Các nhà văn, nhà thơ như: Tạ Duy Anh, Vũ Hữu Sự, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Giáng Vân, Trần Chính Vũ, Trần Thăng, Phạm Ngọc Chiểu...sẽ mãi mãi tri ân nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình, tri ân dòng sông Đà, dòng sông hôm nào còn hung hãn, bất trắc đến khôn lường mà người Pháp đã đặt cho cái tên như là thủy quái - “Sông Đen” nay đã trở thành “nguồn than trắng vô biên”, đã chắp cánh, đã thay đổi cuộc đời và số phận để họ có được những tác phẩm văn học của mình góp mặt trên văn đàn cả nước.
Những điều vừa nói ở trên là muốn khẳng định lại một điều: Giới văn nghệ sỹ Hòa Bình hôm nay nói chung và những người viết văn nói riêng được thừa hưởng di sản của một nền văn hóa lớn trong khu vực. Được sống và được sáng tạo nghệ thuật trong không gian và môi trường văn học sống động và không ngừng phát triển.
xxx
Những ngày đầu tái lập tỉnh Hòa Bình, do thay đổi địa giới hành chính và cũng một phần do công trình xây dựng nhà máy thủy điện Hòa bình đã hoàn thành, việc “người đi, kẻ ở” là chuyện đương nhiên. Đội ngũ những người làm công tác sáng tác, lý luận và phê bình văn học chủ yếu được tách ra từ phòng Sáng tác xuất bản của Sở Văn hóa Hà Sơn Bình, rồi thành lập được Hội Văn hóa các dân tộc Hòa Bình và sau này là Hội VHNT tỉnh Hòa Bình.
Sau khi tái lập tỉnh 5 năm, các tác giả của Hòa Bình nói chung đều chưa có đầu sách in riêng. Tác phẩm lớn nhất lúc đó là Tuyển văn xuôi và Tuyển thơ Hòa Bình 5 năm tái lập tỉnh. Cũng từ hai tập tuyển văn xuôi và thơ này đã phát hiện, bồi dưỡng và tập hợp được một lực lượng viết khá đông đảo, cho đến nay đã có trên 60 tác giả và chủ yếu thuộc chi hội Văn học.
Từ sau tuyển văn xuôi và tuyển thơ, nhiều tác giả phong cách viết đã định hình, có nhiều đầu sách in riêng và in chung. Các tác giả Hà Trung Nghĩa, Lò Cao Nhum, Đinh Đăng Lượng, Bùi Tuyết Mai, Nguyễn Tấn Việt bằng những đóng góp cho nền văn học của tỉnh nhà và cho đất nước, đã có những giải thưởng quốc gia về văn học và đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Hoàn toàn khác với những ngành nghề, những lĩnh vực khác, khi nói về một nền văn học, chúng ta không thể nhận xét kiểu chung chung và chủ quan rằng: Thành tựu văn học năm sau sẽ cao hơn năm trước. Điều đáng quan ngại nhất hiện nay là những nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ, họa sỹ, nghệ sỹ múa và biểu diễn là những tác giả có phong cách sáng tác ổn định, từng có tác phẩm “đứng” được trên các diễn đàn cả nước không nhiều và đều ở độ tuổi đã cao, đã bắt đầu sáng tác “chậm” lại. Trong khi những tác giả mới xuất hiện còn đang phải tự tìm tòi, đang phải tự thể nghiệm mình để tìm một hướng đi riêng, họ không thể ngày một ngay hai có thể tiếp cận và bắt kịp với dòng chảy văn học nghệ thuật đương đại để có thể “thế chỗ” cho những người đi trước.
Đây là một thực trạng, một thách thức mới cho nền văn học nghệ thuật tỉnh ta hiện nay.
xxx
Lao động nghệ thuật nói chung và viết văn nói riêng là một hình thức lao động cực nhọc nhưng hết sức tự giác, tự giác đến đam mê và mang tính độc lập, độc lập đến ngay cả chính bản thân người viết. Những người say mê viết, say mê sáng tạo nghệ thuật không bao giờ đặt lợi ích hay đòi hỏi vật chất lên trên sự sáng tạo. Họ luôn muốn thể hiện mình qua tác phẩm và muốn xã hội hiểu mình qua tác phẩm. Vì vậy cần động viên tinh thần, khích lệ họ kịp thời thông qua việc đặt tổ chức Hội VHNT, cá nhân hoạt động VHNT đúng vị trí, vai trò và chức năng của nó.
Hội VHNT là một tổ chức nghề nghiệp mang tính đặc thù. Theo quan điểm “Nghệ thuật vị nhân sinh” tức là dùng nghệ thuật để biểu lộ, chuyển tải những tư tưởng, tình cảm và những lý tưởng sống… Từ tính đặc thù này mà Nghị quyết Trung ương đã chỉ rõ: “Hội VHNT cũng là một hội chính trị, xã hội, nghề nghiệp”. Do có độ vênh giữa Nghị quyết và các chính sách thuộc thẩm quyền Nhà nước mà các tỉnh, thành, các địa phương vận dụng các chính sách, chế độ cho các Hội VHNT có khác nhau. Nhưng vấn đề mấu chốt không phải là việc đầu tư, rót tiền nhiều hay ít cho tổ chức Hội VHNT cũng như các hoạt động thuộc lĩnh vực VHNT, mà là ở chỗ nhìn nhận tổ chức này trong hệ thống chính trị của địa phương như thế nào?
Việc đặt đúng vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Hội VHNT và các cá nhân tham gia hoạt động VHNT có thể nói một cách nôm na là: Nếu đem hạt thóc đặt trong bồ thóc thì hạt thóc sẽ nảy mầm và cho một mùa vàng no ấm. Nếu đem hạt thóc đặt vào trong thùng gạo hay thậm chí đặt vào trong một bát cơm thì hạt thóc dù chắc đến mấy cũng đâu còn là hạt thóc…
Thiết nghĩ việc tạo cho anh chị em viết văn nói riêng, anh chị em văn nghệ sỹ nói chung một bầu không khí văn chương, một môi trường hoạt động văn học nghệ thuật hồ hởi và thông thoáng là việc làm cấp thiết nhất hiện nay nhằm phát triển nền VHNT cả về lượng và chất, để không sợ bị tụt hậu với quá khứ của chính mình, với nền văn học nghệ thuật của các tỉnh bạn.
Xác lập một góc nhìn, một tầm nhìn mới về tổ chức VHNT và các cá nhân hoạt động VHNT trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình chính là “chiếc lẫy nỏ”, “chiếc cò súng” phát lệnh và hướng cho mũi tên trúng đích. Thông qua việc coi trọng và ghi nhận những tài năng, những đóng góp về VHNT là nguyên khí của tỉnh để các văn nghệ sỹ tự ý thức được vai trò của mình, tự giác và say mê sáng tạo nghệ thuật, đóng góp nhiều tác phẩm có giá trị cho nền văn học nghệ thuật tỉnh nhà.
Triệu Văn Đồi