Tìm kiếm:

Số truy cập: 13481462

 

TRANG CHỦ    DIỄN ĐÀN    GIỚI THIỆU    LIÊN KẾT

 

 

 

 

ĐIỂM

BÁO

Văn nghệ,

Văn nghệ Trẻ

& một số

tạp chí

văn học...

 

 

LĂNG

KÍNH

(phỏng vấn, bình luận tác phẩm của Phong Điệp

PHONG ĐIỆP -SÁNG TÁC MỚI

 

 

Bây giờ thì bà biết, nó hận bà. Trái tim bà chưa đủ tan nát hay sao mà nó còn hận bà? Nó có hận thì bà cũng đành chịu. Bà không oán trách, cũng không hối hận. Nếu có thể quay ngược thời gian, bắt đầu lại, bà vẫn muốn được gọi nó là con (Mẹ và con và trần thế)

 

Kết quả hình ảnh cho mẹ con và trần thế

 

PHONG ĐIỆP - TẠP VĂN

  

NHỮNG DÂU CHẤM LẶNG

 

 

THƯ VIỆN TÁC GIẢ

 

Khi người ta còn biết cô đơn , biết sợ cõi hư vô và biết chết , ngày ấy còn thi ca

 

 

 

 

VĂN HỌC THIẾU NHI

 

 

 

CHÂN

DUNG

NHÀ

VĂN

 

 

“Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Thơ Phùng Quán)

 

Home >> Nội dung website >> KẾT NỐI >> Văn học và nhà trường


Về một chú thích trong bài thơ “Vịnh bà Tú Xương” của Á Nam Trần Tuấn Khải

 

TRAO ĐỔI

 

        Về một chú thích  trong bài thơ “Vịnh bà Tú Xương” của Á Nam Trần Tuấn Khải

 

HOÀNG TUẤN PHƯƠNG

 

Tạp chí Văn nhân Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, số 106 ra tháng 3 & 4 năm 2016, chuyên mục Sáng tác trang 13, in hai bài thơ của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải: Hỡi cô gánh nước, Vịnh bà Tú Xương. Hai bài thơ Á Nam được rút từ cuốn “KIM SINH LỤY - Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI – Tác phẩm, Nhận định và Tư liệu” do soạn giả Lan Hinh Trần Thị Lan biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2015.

 

Trang thơ Á Nam mở đầu với Lời Tòa soạn thật trang trọng: “Nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải (1895-1983) quê quán huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, là tác giả nhiều tác phẩm giàu lòng yêu nước in đậm trong lòng độc giả bao thế hệ. Sống trong cảnh đất nước nửa thuộc địa, nhiều lần ông đã cùng bạn bè tìm cách ra nước ngoài tìm đường cứu nước nhưng không thành.

Nhà thơ đã sáng tác nhiều bài thơ thể hiện nỗi đau của mình trước thời cuộc. Cả cuộc đời ông đã dùng văn chương tận tâm phục vụ dân tộc.

Nhân dịp lễ dựng bia chí sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải, tạp chí Văn Nhân trân trọng giới thiệu hai thi phẩm của nhà thơ rút trong tập “Kim Sinh Lụy…”

 

Đến với trang thơ này, bạn đọc gần xa có dịp đọc lại hai bài thơ đặc sắc đậm đà phong cách Á Nam, nội dung sâu sắc, nghệ thuật toàn bích, càng thêm yêu kính nhà thơ quá cố.

 

Tuy nhiên, trong trang thơ nêu trên, ở bài thơ thất ngôn bát cú “Vịnh bà Tú Xương” có một chú thích của người biên soạn  “KIM SINH LỤY…” xuất bản năm 2015, cần được trao đổi, khả dĩ  làm sáng tỏ thêm việc sử dụng từ ngữ của Á Nam tiên sinh chuẩn mực như thế nào.

Xin chép lại bài thơ vừa “tái bản” để bạn đọc tiện trao đổi:

 

VỊNH BÀ TÚ XƯƠNG

Hơn sáu mươi năm đất Vị Hoàng,

Mẹ hiền, vợ đức, đã treo gương.

Nếm chung trời Việt trăm cay đắng,

Vững với non Côi một mối giường. (1)

Bia miệng đã nên trang khổn phạm, (2)

Nếp nhà không thẹn dấu văn chương.

Tấm thân tuy thác, danh nào thác,

Hồn cũng thơm lây dưới suối vàng.

                                                          (1931)

------

(1)   Mối giường (rường): Hệ thống khuôn phép phải theo.

(2)   Khổn phạm: Khuôn mẫu của người đàn bà có đức.

 

Khi đọc đến chú thích (1)“Mối giường (rường)…” tạp chí Văn Nhân

“sao y bản chính” như trên, những người có trong tay tác phẩm của nhà thơ yêu nước Á Nam Trần Tuấn Khải, xuất bản từ những năm Hai mươi thế kỷ trước, chắc không khỏi ngỡ ngàng.

Trong tuyển tập Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, in năm 1984, nhà thơ Xuân Diệu viết lời giới thiệu, nhà thơ Khương Hữu Dụng viết bài  Vài kỷ niệm về một mối tình thơthay lời bạt”, nhà thơ Lữ Huy Nguyên sưu tầm, tuyển chọn), bài “Viếng bà Tú Xương(1) ở phần trích tuyển tác phẩm VỚI SƠN HÀ - Quyển thứ nhất, in lần đầu năm 1936, Nhà xuất bản Quảng Tiến – Hà Nội tái bản năm 1949, từ “Mối giường” được chú thích: “Mối giường: Hệ thống khuôn phép phải theo”. Như vậy, không có chữ “rường” trong chú thích bản gốc như chú thích (1) “Mối giường (rường) = Mối rường” ở cuốn “KIM SINH LỤY…” dẫn ở trên.

Chúng ta đều biết, từ mối giường đã được dùng từ thế kỷ XV, trong bài thơ Nôm ngự chế của vua Lê Thánh Tông “Vịnh người dệt vải”:

          Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương,

          Vậy phải lên ngôi gỡ mối giường.

          Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt,

          Gót vàng dận dạn máy âm dương.

Chữ “rường” từng xuất hiện trong bản dịch Chinh phụ ngâm của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm thế kỷ XVIII:

          Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội,

          Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.

          Chẳng xem chim én trên rường,

          Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.

Bốn dòng song thất lục bát trên được dịch từ nguyên tác, bản chữ Hán Chinh phụ ngâm khúc của nhà thơ Đặng Trần Côn:

“Quân bất kiến dã ngoại song uyên ương,

Cam tâm bất nhẫn lưỡng phân trương.

Hựu bất kiến lương đầu song yến yến,

Bạch đầu hà tằng vong khiển quyển.”

Chữ “rường” trong đoạn thơ trên được dịch từ hai chữ “lương đầu” . Theo Hán Việt từ điển Đào Duy Anh, Hán Việt tự điển Thiều Chửu, chữ

“lương” nghĩa là rường - cây xà nối hai đầu cột. “Lương đầu”đầu rường. Trong văn học viết bằng chữ Hán, chữ lương (rường) còn xuất hiện trong từ lương đống. Đống: cây đòn nóc, cây cột cao nhất. Lương đống: rường cột. “Người có tài giúp việc quốc gia thường được gọi là lương đống”– Từ điển Đào Duy Anh.

          Còn hai chữ “mối giường” đều có gốc Hán -Việt trong hai cuốn Từ điển Tự điển dẫn ở trên. Giường (giềng) được các cụ xưa dịch từ chữ cương trong “tam cương” gồm: quân thần nghĩa (nghĩa vua tôi), phụ tử ân (công ơn cha với con), phu phụ thuận (vợ chồng hòa thuận). “Tam cương” trong  hệ thống kỷ cương xã hội phong kiến theo kinh sách Nho giáo.

Tự điển Thiều Chửu giảng nghĩa chữ cươnggiềng lưới. “Lưới có giềng mới kéo được các mắt, cho nên cái gì mà có thống hệ không thể rời được đều gọi là cương, như cương thường: đạo thường của người; cương kỷ: giềng mối. v. v...”

          Thiết tưởng, người làm Tuyển tập nên giữ nguyên chú thích cũ in trong các lần xuất bản, tái bản trước, tránh việc dẫn giải chữ nghĩa tùy tiện, để chú thích thiếu chuẩn xác câu thơ “Vững với non Côi một mối giường” của nhà văn hóa, nhà thơ túc Nho Á Nam Trần Tuấn Khải.

 Bài viết nhỏ này chắc không tránh khỏi sơ lược, khiếm khuyết. Người viết rất mong được các vị cựu học cùng quý bạn đọc gần xa chỉ giáo.

 

                                                                                         Nam Định, 7-5-2016

                                                                                                  H.T.P

 

-----

Chú thích:

(1) Viếng: thăm viếng, phúng viếng…; khác với Vịnh: tức cảnh mà làm thơ; ngâm đọc… (Từ điển tiếng Việt).

 Bà Tú Xương nhũ danh (tên cha mẹ đặt cho) là Phạm Thị Mẫn, quê gốc ở làng Hoa Đường (sau đổi là Lương Đường), huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương là người đức hạnh, dòng dõi họ Phạm ở  Lương Đường, dòng họ có nhiều người đỗ đạt cao. Bà sinh năm 1869, mất năm 1931 tại thành phố Nam Định. Sau khi bà mất, nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải đã có thơ viếng bà. Bài “Viếng bà Tú Xương” trong tác phẩm VỚI SƠN HÀ tác giả ghi năm sáng tác 1931.

 

 

 

 

 

 

 

         

 

 

 

 

Gửi email trang này cho bạn bè Mở cửa sổ in bài viết này


Văn học và nhà trường ::
  •   TÚ XƯƠNG VỚI “ĐƯỜNG THI HỢP TUYỂN NGŨ NGÔN LUẬT GIẢI ÂM” 04/01/2017
  •   ĐI VỀ PHÍA ÁNH SÁNG 04/09/2016
  •   Về một chú thích trong bài thơ “Vịnh bà Tú Xương” của Á Nam Trần Tuấn Khải 04/07/2016
  •   Thể tài văn học du kí về biển đảo Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX 01/07/2016
  •   Người suốt đời “bận lo làm người” 12/05/2016
  •   Cõi nhân sinh trong truyện ngắn Lê Văn Thảo thời kỳ đổi mới 06/05/2016
  •   ĐÈO HẢI VÂN – Hai bài thơ hay thế kỷ XIX 13/03/2016
  •   TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU TỪ GÓC NHÌN TRIẾT HỌC HIỆN SINH 05/03/2016
  •   “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác: Sự khám phá nhân cách văn hóa Việt 16/02/2016
  •   Tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương trong thơ xuân Nguyễn Bính 14/02/2016
  •  Xem tất cả các tin...

     
     

    Bản quyền 2006 (c) thuộc về PHONGDIEP.NET - Email: webmaster@phongdiep.net