
Hoài Thanh
Tác giả Thi nhân Việt Nam – cái tên “ấm lòng”
Nguyễn Huy Thắng
Nếu còn sống, sang năm ông vừa tròn một trăm tuổi. Vậy mà từ hơn sáu mươi năm trước, ông đã là tác giả của cuốn Thi nhân Việt Nam nổi tiếng! Cuốn sách của một nhà phê bình 33 tuổi (tác giả sinh năm 1909, Thi nhân Việt Nam ra đời năm 1942), tổng kết mười năm thơ mới – cả hai mốc thời gian chả là gì nhiều so với lịch sử văn học của một đất nước – ngay khi ra đời đã có tầm vóc của một tác phẩm kinh điển, và càng với thời gian càng thêm sáng giá. Tất nhiên, ông còn là tác giả của nhiều cuốn sách khác nữa, nhưng nhắc đến ông người ta nghĩ ngay đến Thi nhân Việt Nam, dù đã có lúc ông thậm chí còn muốn chối bỏ nó; nói đến ông là người ta hình dung ra cả một phong trào thi ca đầy sức sống, dù đã có lúc nó bị xem là đã lỗi thời. Ông là nhà phê bình văn học Hoài Thanh, tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, đồng tác giả Thi nhân Việt Nam với người em Hoài Chân (tên thật là Nguyễn Đức Phiên). Nhưng với tôi, ông trước hết là một người đã từng có một thời gian gắn bó với cha tôi trong văn học và trong công tác.
Cha tôi là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Tôi muốn nhất mạnh chữ nhà văn, vì ông đích thực là một cây bút văn xuôi thuần túy, tác giả của những tiểu thuyết, ký sự, hay kịch chăng nữa thì cũng là văn xuôi cả. Nhưng điều đó không có nghĩa ông không yêu thơ; ngược lại, về phương diện này, tôi dám cho ông là một người yêu thơ không kém bất cứ ai trong những người làm văn học nghệ thuật ở Việt Nam. Thậm chí thời kỳ đầu đến với văn chương, ông còn ôm mộng làm thi sĩ, và nếu ông coi “câu văn cũng như hòn đá”, thì “thơ là hòn đá rũa mài chỉ còn lại cái tinh hoa sáng sủa”. Dù về sau ông nhận ra sở trường của mình là văn, không phải thơ, thì đôi lúc hứng lên ông vẫn làm thơ, khi là một sáng tác văn học hẳn hoi, như hoạt cảnh “Đã đứng lên tất cả” viết cho thiếu nhi trong kháng chiến, khi thì là một bài thơ vui tặng bạn. Chẳng hạn trong thời gian kháng chiến, khi đi chiến dịch Biên giới mùa thu năm 1950, ông có “làm nghịch một bài thơ cho Kim” (Kim là bí danh của Hoài Thanh thời gian này):
Nhật mộ tòng quân đăng Chợ Mới
Mang mang cố hữu mộng trung không.
Hồi đầu thâm ức Hoài Thanh diện
Huy thử cao đàm Anh Nghĩa phòng.
Tố Hữu dĩ thừa Tuyên huấn vụ
Xuân Sanh nan xuất kiểm tra lung.
Thử phiên phục vụ Cao Bằng dịch
Sáng tác thời lai ý khí hùng.
ý là:
Chiều tối hành quân đi Chợ Mới
Mênh mang giấc mộng cũ xa vời.
Nhớ tới vẻ mặt của Hoài Thanh
Cùng Huy đàm đạo ở phòng của Anh Nghĩa.
Tố Hữu giờ đã làm nhiệm vụ ở ban Tuyên huấn
Xuân Sanh khó đi kiểm tra công việc.
Lần này tham gia phục vụ chiến dịch Cao Bằng
Sáng tác chắc sẽ có thêm ý khí hào hùng.
(Thúy Loan dịch nghĩa)
Bài thơ thù tạc được làm theo lối Đường luật, thể thất ngôn bát cú, theo kiểu người xưa vẫn hay làm tặng nhau. Nhân đây cũng xin được nói, cha tôi rất mê thơ Đường, đặc biệt lại càng yêu thi hào Đỗ Phủ. Ngay từ trước Cách mạng, ông đã có ý định viết một cuốn sách khảo cứu mang tiêu đề “Tính cách xã hội trong thơ Đỗ Phủ”. Sau này, khi kết thân với nhà thơ Chế Lan Viên, hai ông sẽ cùng chia sẻ tình yêu thơ Đường, còn cả chép thơ và tặng sách cho nhau. Mùa thu năm 1958, cha tôi đi thực tế ở Điện Biên, nhớ bạn, có làm tặng họ Chế một bài thơ theo thể Đường luật, với câu mở đầu gợi nhớ đến những “phong hoa tuyết nguyệt” thường thấy trong thơ Đường: “Nhất dạ Điện Biên thu khí lãnh” (Một đêm thu lạnh ở Điện Biên)... Trở lại với bài thơ “làm nghịch” tặng tác giả Thi nhân Việt Nam, ta thấy có nhắc đến Hoài Thanh, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi (bút danh là Anh Nghĩa), và cha tôi (Huy, tên đệm của ông). Cách gọi này, hoặc cha tôi tự xưng, hoặc được người khác gọi, thường là chỉ giữa ông với những bạn bè thân quen nhất, và vào những thời điểm thân mật nhất. Với ông Hoài Thanh cũng vậy.
Sau Cách mạng tháng Tám, theo sự phân công của đoàn thể, mà trực tiếp từ đồng chí Trường Chinh, cha tôi được giao đặc trách Hội Văn hóa cứu quốc trung ương. Tờ Tiên phong, cơ quan ngôn luận của Hội từng được chuẩn bị trong bí mật (tại ngôi nhà của cha tôi ở quê hương Dục Tú), đã kịp ra công khai ngay từ số đầu tiên. Đến số 2 thì trong Bộ biên tập có cả cha tôi và nhà phê bình văn học nổi tiếng Hoài Thanh, người đồng thời cũng là Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc thành phố Huế. Với cương vị này, trên số 3 Hoài Thanh đã có bài Dân khí miền Trung, kể về chuyến đi “kinh lý” của ông trên vùng địa bàn công tác của mình, còn cha tôi đăng tiếp bút ký ở chiến khu, ghi lại chuyến đi đầy ấn tượng của ông lên Tân Trào dự Quốc dân đại hội trong những ngày tháng Tám lịch sử. Sự đồng hành giữa hai ông trong công tác Văn hóa cứu quốc sẽ càng thêm khăng khít, khi vào trung tuần tháng 10-1946, Đại hội nghị Văn hóa cứu quốc họp, đã bầu ông Hoài Thanh làm Tổng thư ký, cha tôi làm Phó thư ký.
Hơn hai tháng sau, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Các ông cùng ra đi kháng chiến.
Khác với một số bạn thân khác, cha tôi và ông Hoài Thanh ít có dịp gần nhau cả về lĩnh vực và địa bàn công tác. Đầu kháng chiến, ông Hoài Thanh công tác bên Đài Tiếng nói Việt Nam, đến khi Vụ Văn học nghệ thuật thuộc Bộ Giáo dục được thành lập thì chuyển qua phụ trách, rồi làm Trưởng tiểu ban Văn nghệ của Ban tuyên huấn trung ương... Còn cha tôi trước sau vẫn ở Hội Văn nghệ Việt Nam. Có lẽ do đã biết và hiểu nhau thời kỳ hoạt động Văn hóa cứu quốc sau Cách mạng tháng Tám mà đến kháng chiến chống Pháp, hai ông càng trở nên thân thiết, “cách mặt” nhưng không “xa lòng”. Nhật ký của cha tôi những năm tháng ấy còn lưu lại biết bao tình cảm quyến luyến với Hoài Thành. Tháng 10-1947, Pháp nhảy dù Bắc Cạn, nơi Đài Tiếng nói Việt Nam đóng. Nghe tin đài im tiếng, cha tôi rất lo anh em bị bắt, và người đầu tiên ông nghĩ đến là “lo cho Hoài Thanh”. Đến cuối năm 1948, khi cùng có dịp đi với pháo binh, hai người thực sự đã như phải lòng nhau. Pháo binh là binh chủng mới xuất đầu lộ diện nhưng đã sớm trở nên gắn bó với giới văn nghệ sĩ. Cha tôi cũng như các văn nghệ sĩ Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tư Nghiêm… đã nhiều lần đến với pháo binh, nhưng chỉ với Hoài Thanh là ông có dịp cùng đi một chuyến dài.
Kết quả của chuyến đi, với Hoài Thanh là một tập ghi chép mà sau này, vào năm 1983, khi xuất bản Di bút và di cảo của cha mình, anh Từ Sơn có cho công bố 50 trang in. Tập ghi chép tuy mới ở dạng tư liệu nhưng đã có được nhiều chi tiết thú vị về bộ đội và đời sống tinh thần, tình cảm của họ. Với hai nhà văn như Hoài Thanh và cha tôi, đến với pháo binh, điều khiến các ông quan tâm không phải là những vấn đề về quân sự hay khí tài, dù về phương diện này, một binh chủng mới bao giờ cũng gây chú ý. Trước sau, với nhà văn, chuyện con người vẫn là cái đáng quan tâm nhất. Đây là một đoạn trong ghi chép của Hoài Thanh ngày 25-12-1948: “Chiều hôm nay Liên, đại đội trưởng đi liên lạc với bộ chỉ huy trung đoàn về. Liên về trong nhà vui hẳn lên. Cứ nhìn Liên là vui. 23 tuổi, mắt sáng, mũi thẳng, môi son. Tưởng với tôi cứ nói với nhau: “Quân nhân như Liên đi đến đâu thì chị em phụ nữ chết như rạ”. Xem ra, tác giả Thi nhân Việt Nam cũng rất “vị nhân sinh” đấy chứ. Còn với cha tôi, kết quả đáng kể nhất của chuyến đi, theo như tôi nghĩ, chính là tình bạn có được với Hoài Thanh. Vì sao thì sau đây xin được nói rõ.
Trở về từ chuyến đi, không biết với ông Hoài Thanh thế nào chứ với cha tôi là một chuyện buồn. Vở kịch Những người ở lại của ông, sau có một tháng ông đi vắng mà đang từ được khen biến thành bị chê đến khó ngờ. Nào là tác giả quá say sưa với tấn kịch trong gia đình bác sĩ Thành mà không nói được gì về cuộc kháng chiến của Thủ đô, nào là tác giả vuốt ve tiểu tư sản, rằng về cốt truyện ông bắt chước vở Lôi vũ của nhà viết kịch Trung Quốc Tào Ngu quá lộ liễu, rằng về văn phong thì cứ như là... dịch văn Tây. áp lực của sự phê phán lan truyền đến mức ông kinh hoàng nhận thấy “những bạn năm ngoái khen nay cũng lảng” (nhật ký 21-2-1949). Tất cả khiến cho tác giả cảm thấy hoang mang không biết thế nào cho phải, tóm lại là ông muốn chối bỏ tất cả: “Khủng hoảng quá đi thôi. Ta muốn trốn cuộc đời. Ta muốn sống như một người bình thường. Ta không muốn là Nguyễn Huy Tưởng… Những người ở lại thì nó giúp cái gì?” (nhật ký đầu năm 1949).
Sự phê phán có phần nào mang tính “ám ảnh”, “xỏ xiên” của một số người, như cha tôi có ghi lại trong nhật ký, kéo dài đến giữa năm, nhưng thật may cho ông, cũng khoảng thời gian đó ông gặp lại Hoài Thanh, trong một cuộc hội nghị nào thì phải. Đêm 26-6, như nhật ký của ông cho thấy, có lẽ là một đêm ủy mị nhất, nhưng cũng là được an ủi nhất, trong cuộc đời nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng: “Đêm nằm tình tự với Hoài Thanh. Chỉ có những lúc ấy mới thấy lòng dìu dịu. Nói nhiều về sự chán nản của mình: nguồn sáng tác cạn. Chuyện tình duyên trắc trở. Khuya chưa hết chuyện”…
Hơn một tuần sau, cha tôi vẫn còn ở trong tình trạng rất tồi tệ. Trên bước đường công tác, ông có việc qua lại con đường Liễn Sơn - Thản Sơn dưới chân núi Tam Đảo. Đường “bốc lên kỷ niệm” đưa ông trở về với những hình ảnh vui vầy của buổi đầu kháng chiến. Còn bây giờ thì “lòng nặng trĩu buồn. Mỗi bước là một hình ảnh dĩ vãng. Qua hết cả rồi”... Cám cảnh, ông lại nghĩ đến Hoài Thanh, người bạn tâm đầu ý hợp vừa mới gặp lại hôm qua. Gặp nhau, nói chuyện mãi không dứt, lúc ra đi ông còn được bạn tiễn biệt mãi đến tận Dốc Đen, vẻ quyến luyến khiến ông cảm động. Tự nhiên ông thấy cuộc đời đâu đến nỗi nào, khi bên ông vẫn còn “một vài tên ấm lòng”: Hoài Thanh, mấy người bạn bộ đội mà với ông, bao giờ cũng là chỗ yên tâm nhất...
*
* *
Thế rồi cha tôi đi chiến dịch Biên giới và “làm nghịch bài thơ” tặng Hoài Thanh như trên đã nói. Thế rồi ông được cử đi học trường Đảng Nguyễn ái Quốc mấy tháng ròng. Rồi sau các đợt chỉnh huấn liên miên, ông được giao tham gia công tác cải cách ruộng đất thí điểm ở một xã Phú Thọ. Rồi chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi Hiệp định Giơnevơ, các văn nghệ sĩ người trở về tiếp quản Thủ đô, người đi nhiệm vụ khác... Có nhiều lý do khách quan khiến cha tôi và ông Hoài Thanh ít có dịp gặp nhau suốt một thời gian dài. Hòa bình lập lại, thời gian đầu cha tôi vẫn ở bên Hội Văn nghệ, ông Hoài Thanh thì làm Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật Bộ Văn hóa. Lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng cuối năm 1955, khi cha tôi đi Liên Xô trong một chuyến thăm dài ngày, ông Hoài Thanh có ra ga tiễn, đương nhiên là với tư cách bạn bè. Nhưng rồi xảy ra vụ Nhân văn Giai phẩm, gây phân hóa mạnh mẽ trong các văn nghệ sĩ. Cha tôi không tham gia gì viết gì cho báo Nhân văn cũng như các tập san Giai phẩm, nhưng ông không phản đối họ, lại càng không tán thành các biện pháp “xử lý” anh em, chừng ấy cũng đủ khiến ông bị không ít phiền hà. Còn ông Hoài Thanh thì “hoàn toàn tán thành biện pháp đối với Nhân văn của Trung ương”, như cha tôi ghi trong nhật ký ngày 13-12-1956. Điều đó khiến hai ông bất đồng quan điểm, dẫn đến có những nhìn nhận không hay về nhau, thậm chí là cả về nhân cách.
Nhật ký giai đoạn 1956-57 của cha tôi có không ít dòng chua chát về ông Hoài Thanh, với tư cách là người quản lý văn nghệ. Nhưng rồi mọi việc cũng qua đi, ít nhất là về phía cha tôi, người luôn coi với nhà văn việc sáng tác mới là quan trọng. Sau cuộc đấu tranh tư tưởng trong giới văn nghệ, nửa cuối năm 1958 cha tôi đi thực tế Điện Biên, nơi ông viết bài thơ tặng Chế Lan Viên theo thể Đường luật mà tôi đã có nói ở phần đầu bài viết. Trở về sau chuyến đi cũng là dịp năm hết tết đến. Tết năm Kỷ Hợi 1959 ấy, cha tôi đón giao thừa ở nhà Dương Bích Liên, “người bạn họa sĩ thân thiết” của ông, và sáng hôm sau, mùng một, ông đi thăm mấy người bạn, trong đó có Hoài Thanh. Có lẽ mấy tháng trở lại sống với bộ đội ở nông trường Điện Biên, cha tôi đã có thái độ tích cực hơn về bạn bè, đồng chí, nhất là với những người bạn cũ...
*
* *
Cha tôi sinh năm 1912, mất năm 1960, thọ 48 tuổi. Ông Hoài Thanh sinh năm 1909, mất năm 1982, thọ 73 tuổi. Cuộc đời dài ngắn khác nhau, nhưng mừng là hai ông đều có được tác phẩm để đời. Với cha tôi, không nghi ngờ gì nữa, là vở kịch Vũ Như Tô, còn với ông Hoài Thanh, như chính ông cũng tự nhận, là cuốn Thi nhân Việt Nam. Thế nào mà cả hai ông đều dính vào, hay vận vào, cái bệnh “vị nghệ thuật”. Cha tôi, với tác phẩm Vũ Như Tô, từng bị phê phán là không dứt khoát lên án nhà kiến trúc xây Cửu trùng đài hao tiền tốn của hại nước hại dân, lại còn đồng cảm với họ Vũ chỉ biết có cái đài. Còn ông Hoài Thanh, với chủ thuyết “nghệ thuật vị nghệ thuật” từ giữa những năm ba mươi của thế kỷ trước, đã phải chịu điều tiếng suốt một thời gian dài, khi mà “nghệ thuật vị dân sinh” mới là duy nhất đúng. Nhiều lúc tôi cứ nghĩ, không biết trong số bao nhiêu người từng say mê đọc Thi nhân Việt Nam hơn sáu thập kỷ qua, mấy ai đã lên tiếng bảo vệ tác giả, hay ít ra, chia sẻ với ông, động viên ông khi tác phẩm của ông bị phê phán, khi bản thân con người ông bị chê bai. (Xin khỏi nhắc đến những giai thoại, những thơ vịnh chân dung ông thôi thì chả thiếu gì và nhiều khi quá đáng!) Còn với cha tôi, khi ông bị, chẳng hạn, phê phán vở kịch Những người ở lại, thì ít nhất đã có người động viên, chia sẻ, khiến ông cảm thấy “ấm lòng”. Và người ấy là bác Hoài Thanh...
Bản tác giả gửi Phongdiep.net