Tìm kiếm:

Số truy cập: 12138832

 

TRANG CHỦ    DIỄN ĐÀN    GIỚI THIỆU    LIÊN KẾT

 

 

 

SÁCH MỚI ĐƯỢC TẶNG

 

- Tiêu gì cho thời gian để sống (Tản văn của Hoàng Việt Hằng- NXB Trẻ)

- Mưa dắt ngang chiều (thơ Lâm Bằng, NXB Hội nhà văn)

- Nổi sóng (thơ Vi Quốc Hiệp, NXB Hội nhà văn)

- Người không nhớ tôi sao (Tiểu thuyết của Tiểu Châu - NXB Lao động)

- Ly cafe tháng 12 (tản văn của Tuấn Anh, NXb Hội nhà văn)

- Chiếc nhẫn đính hôn (truyện và kí của Phạm Thành Long, NXB Thanh niên)

- Gửi người xa (thơ của Thương Giang, NXb Công an nhân dân)

- Nỗi buồn phalê (thơ của Trương Nam Chi, NXb Hội nhà văn)

 

Xin trân trọng cảm ơn các tác giả, các đơn vị xuất bản đã gửi tặng sách và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

 

 

ĐIỂM

BÁO

Văn nghệ,

Văn nghệ Trẻ

& một số

tạp chí

văn học...

 

 

LĂNG

KÍNH

(phỏng vấn, bình luận tác phẩm của Phong Điệp

PHONG ĐIỆP -SÁNG TÁC MỚI

 

Từ ngày này sang tháng khác, Linh cắm mặt vào chậu than. Nhìn hết lớp than này đến lớp than khác biến thành tro. Linh thấy mình cũng như tàn tro ấy thôi, nhưng vẫn cứ phải cố rực lên mà nhen thêm chút lửa…

(Tàn tro)

 

 

PHONG ĐIỆP - TẠP VĂN

  

NHỮNG DÂU CHẤM LẶNG

 

 

THƯ VIỆN TÁC GIẢ

 

Khi người ta còn biết cô đơn , biết sợ cõi hư vô và biết chết , ngày ấy còn thi ca

 

 

 

 

VĂN HỌC THIẾU NHI

 

 

 

CHÂN

DUNG

NHÀ

VĂN

 

 

“Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Thơ Phùng Quán)

 

Home >> Nội dung website >> KẾT NỐI >> Văn học và nhà trường


HÀM Ý VÀ HÀM SÚC TRONG TIẾNG VIỆT

 

Th.S Trần Minh Thương

      Trường THPT Mai Thanh Thế, Ngã Năm, Sóc Trăng.

 

HÀM  Ý VÀ HÀM SÚC TRONG TIẾNG VIỆT

                                                            

      1. Những vấn đề liên quan đến hàm ý trong chương trình sách giáo khoa

      1.1. Ngữ văn 9

 

      Theo chương trình sách giáo khoa hiện hành, bộ sách giáo  khoa Ngữ văn 9 (do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên) bố trí bài dạy: Các phương châm hội thoại (2 tiết) với những nội dung cơ bản sau:

      I. Phương châm về lượng: Khi giao tiếp, cần nói cho có  nội dung; nội dung của lời nói phải đáp ứng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thừa, không thiếu.

      II. Phương châm về chất: Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có  bằng chứng xác thực.

      III. Phương châm quan hệ: Khi giao tiếp, cần nói đúng vào  đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề

      IV. Phương châm cách thức: Khi giao tiếp, cần chú ý nói ngắn gọn, rành mạch, tránh cách nói mơ hồ.

      V. Phương châm lịch sư: Khi giao tiếp, cần tế nhị  và tôn trọng người khác.

 

      1.2. Ngữ văn 12

 

      Ở chương trình THPT, lớp 12, bộ sách giáo khoa (do Phan Trọng Luận tổng chủ biên) phân bố hai tiết thực hành hàm ý.

      Cấu trúc bài học cũng rất đơn giản bài Thực hành hàm ý (tiết 72) gồm 3 bài tập đánh số từ 1 – 3, bài tập 1 là cách tạo hàm ý vi phạm phương châm hội thoại về lượng; bài tập 2: cách tạo hàm ý vi phạm phương châm hội thoại về lượng và phương châm về cách thức; bài tập 3: tác dụng tế nhị, lịch sự của việc sử dụng hàm ý (cả 3 bài tập đều sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt, dù ngôn ngữ sinh hoạt ấy được trích từ các tác phẩm văn học), và tiết Thực hành hàm ý (tiếp theo) gồm 5 bài tập đánh số từ 1 – 5, tất cả ở tác dụng của việc sử dụng hàm ý (cả trong ngôn ngữ sinh hoạt lẫn ngôn ngữ nghệ thuật).

 

      2. Hàm ý và hàm súc

 

      2.1. Khái niệm hàm ý

      Theo Hướng dẫn thực hiện sách giáo khoa lớp 12, môn Ngữ Văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2008, trang 66, hàm ý là:

      Những nội dung, ý nghĩ mà người nói có ý định truyền báo đến người người nghe không nói trực tiếp, không thể hiện tường minh, rõ ràng qua từ ngữ dùng trong câu, mà để cho người nghe tự suy ra khi căn cứ vào nghĩa tường minh và ngữ cảnh giao tiếp. Còn câu hay lời nói có hàm ý thì gọi là hàm ngôn.

 

      Muốn  đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp thì cả người nói và người nghe đều phải có năng lực sử dụng hàm ngôn.

      Hàm ngôn được sử dụng thường xuyên không chỉ  trong ngôn ngữ nghệ thuật mà cả trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày.

 

      2.2. Khái niệm hàm súc

 

      Từ  điển thuật ngữ Văn học xác định: Hàm súc là hình thức diễn đạt, qua đó, người nói có thể thông báo được một nội dung lớn nhất bằng một số lượng các yếu tố ngôn ngữ ít nhất. Đây là đặc điểm, đồng thời cũng là yêu cầu rất cao của của ngôn từ văn học. Tính hàm súc của ngôn từ văn học có những biểu hiện cụ thể như sau:

 

      Thứ  nhất, tính hàm súc của ngôn từ văn học thể hiện ở tính đa nghĩa của nó. Trong văn học, hàm súc là “lời ít, ý nhiều”, cùng một lời có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau và hình như hiểu theo cách nào cũng ít nhiều có lý.

 

      Thứ  hai, tính hàm súc thể hiện ở sự thống nhất tối đa các chức năng và đặc điểm của ngôn từ nghệ thuật trong một yếu tố (hoặc một vài yếu tố) của lời nói.

      Thứ  ba, tính hàm súc của ngôn ngữ văn học còn thể hiện ở dung lượng lớn những ý nghĩ, tình cảm mà người viết không viết ra, nhưng người đọc có thể tự mình suy ra được.

 

      Cho nên, trong văn thơ, ở chỗ lặng, chỗ ngừng, chỗ trống nhiều khi lại là chỗ được nói nhiều nhất. Ở đây, tính hàm súc của văn chương là sự súc tích cô đọng, là lời chật, “ý rộng”, “lời đã hết mà ý vô cùng”, để lại nhiều dư vị trong lòng người đọc. [139 – 140, 1] 

 

      2.3. Nhận xét

 

      Thứ  nhất, hàm ý hay hàm ngôn sử dụng trong cả ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ nghệ thuật. Trong phong cách ngôn cách ngôn ngữ nghệ thuật thì hai khái niệm hàm ý và hàm súc gần như tương đồng nhau.

      Một ví dụ cụ thể, ta có thể nói: Lời nói của anh ấy có hàm ý (tức hàm ngôn), nhưng ít khi sử dụng câu Lời nói của anh ấy có hàm súc. Ngược lại, trong một lời thơ, một câu văn mang tính nghệ thuật thì thường dùng khái niệm hàm súc để chỉ nó hơn là dùng từ hàm ý.

 

      Thứ  hai, hàm ý bao hàm cả hàm súc.

      Thứ  ba, trong giao tiếp ở ngôi thứ nhất không thể tạo hàm súc, họ chỉ tạo được hàm ý trong lời nói. Hàm súc là do nhà văn tạo ra. Nói cách khác là hàm súc là cái sẵn có trong lời văn nghệ thuật, còn hàm ý có thể xuất hiện ngay tức thời trong lúc sinh hoạt

 

      2.2. Cách tạo hàm ý và biểu hiện hàm súc trong ngôn ngữ nghệ thuật.

 

      2.2.1. Cách tạo hàm ý

      2.2.1.1. Dùng cử chỉ, thái độ, nét mặt

      Ví  dụ: An và Tài cùng là học sinh lớp 11. Một hôm, An hỏi Tài:

      Chí  Phèo thế nào?

      Tài nhún mình, lè lưỡi.

      Hành động của Tài là hành động có hàm ý.

      2.2.1.2. Bằng cách sử dụng câu theo mục đích nói

      Ngữ  pháp tiếng Việt có bốn loại câu sử dụng theo mục đích nói: câu cảm, câu hỏi, câu cầu khiến và câu kể (hay câu tường thuật). Trong hội thoại, cách sử dụng các loại câu này cũng tạo ra nghĩa hàm ý sâu sắc.

      Ví  dụ: Hai người bạn nói chuyện với nhau, một người hỏi:

      Bạn thấy tôi thế nào?

      Người kia trả lời: Đẹp thấy ghê!

      Cách trả lời ấy, kết hợp với cử chỉ điệu bộ sẽ tạo ra hàm ý.

      2.2.1.3. Vi phạm các phương châm hội thoại

 

      Thứ  nhất, vi phạm phương châm về lượng (chủ ý nói thiếu lượng thông tin cần thiết hay thừa lượng thông tin so với yêu cầu của cuộc thoại), ví dụ câu chuyện dân gian Lợn cưới áo mới gây cười bởi tác giả cố tình vi phạm phương châm này.

      Thứ  hai, vi phạm phương châm quan hệ (chủ ý nói chệch ra ngoài đề tài của cuộc thoại mà người nói đang tham gia). Có thể thấy ngay điều này qua thành ngữ ông nói gà, bà nói vịt.

 

      Thứ  ba, vi phạm phương châm cách thức (chủ ý nói không rõ ràng, mạch lạc, nói vòng vo). Ví dụ: câu trả lời của Bá Kiến (khi Chí Phèo đến nhà hắn lần cuối): Tôi không phải là cái kho. Cái kho biểu hiện của người nhiều tiền, lắm của, hàm ý Tôi không có nhiều tiền để lúc nào cũng có thể cho anh. (không rõ tàng, rành mạch mà thông qua hình ảnh cái kho để nói đến tiền!)

 

      Thứ  tư, vi phạm phương châm về chất (chủ ý nói không đúng sự thật), ví dụ câu chuyện cười về Quả bí khổng lồ.

      …

      Cần chú vì phương châm lịch sự trong giao tiếp nên giữa các nhân vật trong hội thoại, người lơn hơn, hoặc hai đối tượng ngang bằng nhau (về tuổi tác, về địa vị gia cấp, …) sẽ tạo cách nói hàm ý thoải mái hơn. Trái lại, người nhỏ hơn ít khi dùng cách nói hàm ý với “bề trên”, vì như thế sẽ không lịch sự, thiếu tế nhị, …

 

      2.2.2. Các biểu hiện hàm súc trong ngôn ngữ  nghệ thuật

      2.2.2.1. Sử dụng các biện pháp tu từ

      Ca dao có câu:

Công anh chăn nghé đã lâu

Bây giờ  nghé đã thành trâu ai cày

      Nghĩa tường minh của câu ca là một hiện tượng thực diễn ra khá phổ trong cuộc sống của những người chân lắm tay bùn: con trâu đi trước cái cày theo sau!

 

      Nhưng nhờ biện pháp tu từ ẩn dụ, nghĩa của câu ca không dừng lại ở đó.

      Ta thấy ba từ : nghé – trâu – cày ẩn chứa đằng sau nó một cái gì khác thật xa xăm và sâu sắc.

      Từ  nghé để được thành trâu cày trải qua một quá trình chăm sóc dưỡng nuôi. Anh chàng nông dân nào đấy đã chăn nghé cho đến khi nghé thành trâu. Nhưng hỡi ôi, khi công đã đến hồi thành tựu, thì thành quả ấy đã vào tay “ai” kia!

 

      Từ  những ẩn ý ấy, lời thơ khiến người đọc có thể liên tưởng đến một cung bậc dang dỡ  nào đó trong tình yêu lứa đôi chăng! Có thể  thấy thấp thoáng hình ảnh một “anh” đã dày công “đeo đuổi”, “nuôi dưỡng” bóng hình nào đấy trong tim mình để rồi giờ đây đêm về ôm mộng sầu cảnh gối chiếc chăn đơn!

 

      2.2.2.2. Câu hỏi tu từ

      Cuối bài thơ Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du viết:

        Bất tri tam bách dư niên hậu

        Thiên hậu hà nhân khấp Tố  Như?

         

      Nghĩa là: Không biết hơn ba trăm năm sau/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như?

      Nghĩa tường mình là thế, nhưng câu thơ còn có nhiều cách hiểu khác nữa:

      Thứ  nhất, hậu thế ai là người khóc cho Tiểu Thanh (nhân vật trữ tình trong tác phẩm)

      Thứ  hai, ai sẽ là người đồng cảm cùng nhà thơ khóc Tiểu Thanh, khóc phận đàn bà bạc mệnh!

      Thứ  ba, ai sẽ là người khóc cho đường công danh “bấp bênh” của Tố Như.

      Thứ  tư, Tố Như muốn người đọc hậu thế đồng cảm cùng với quan điểm nghệ thuật của mình, …

 

      Thật là, một câu hỏi lớn không lời đáp! (chữ của Huy Cận)

      2.2.2.3. Điển tích và các tư liệu văn học cổ điển

       Cung oán ngâm ở câu 83-84 Nguyễn Gia Thiều viết:

    Giấc Nam Kha khéo bất bình

    Bừng con mắt dậy thấy mình tay không!

     

      Tích giấc Nam kha được lấy từ chữ: Nam kha mộng, nghĩa là giấc mộng ở cành hướng Nam. Trong một bài ký của Lý Công Tá, đời Đường, chép rằng: Thuần Vu Phần chiêm bao đến nước Hoè An được quốc vương nước này cho làm chức Thái thú và gả con gái cho, hưởng đủ mọi điều vinh hiển; nhưng sau bị thua trận, vợ lại chết; vua sinh nghi cho về. Người ấy giật mình tỉnh giấc, thấy mình ngủ dưới gốc hoè, dưới nhánh hoè hướng nam  có cái hang kiến, mới sự tỉnh biết mình nằm chiêm bao nơi hang ấy. Từ tích ấy, câu thơ muốn nói rằng mọi thứ vinh hoa phú trên đời này chẳng khác gì giấc chiêm bao, có đó rồi mất đó.

 

      2.2.2.4. Chơi chữ

      Khi kín đáo hơn, nhẹ nhàng, để nói đến thân phận bấp bênh về thân phận của người phụ nữ trong xã hội ngày trước, dân gian có câu:

Thân em như cá rô mề

Lao xao giữa chợ biết về tay ai

      Ví  thân em với cá rô mề, quả là khó còn từ ngữ nào đắc hơn trong văn cảnh vừa dẫn, bởi nói vừa chỉ được nhiều điểu mà người sáng tạo ra nó muốn nói.

 

      2.3. Chức năng của cách nói hàm ý và tính hàm súc trong ngôn ngữ nghệ thuật

      2.3.1. Tế nhị, nói tránh nhưng điều thô tục.

      Truyện Kiều có câu:

Tiếc thay một đóa trà mi

Con ong đã tỏ đường đi lối về

 

      Trà  mi tức hoa đồ mi, một thứ hoa nở về mùa hạ, sắc trắng hơi vàng (do mặt chữ Hán tự “đồ” 荼 gần giống chữ 茶 nên đọc nhầm). Đường thi có câu: Khai đáo đồ mi hoa sự liễu. Nghĩa là Nở đến hoa đồ mi là việc chơi hoa dã xong rồi. Mượn ý thơ ấy, cùng với hình thức ẩn dụ tu từ (ong: đối tượng chủ động chơi hoa rồi bỏ hoa hoa tàn!) Nguyễn Du diễn tả cảnh Thúy Kiều thất thân với Mã Giám sinh, thật là tế nhị biết dường nào!

 

      2.3.2. Dung lượng thông tin lớn

      Nguyễn Du viết:

Dập dìu lá gió cành chim

Sớm  đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh

      Hình ảnh lá gió cành chim sử dụng từ ý thơ của nàng Tiết Đào: Chi nghinh nam bắc điểu. Diệp tống vãng lai phong, nghĩa là Cành đón chim nam bắc; lá đưa gió lại qua. Cha nàng xem, biết phận con sao không ra gì, bởi hàm ý của nó chỉ khách giang hồ tiếp khách làng chơi.

 

      Tác giả dùng hình ảnh lá gió cành chim để miêu tả cuộc sống ở thanh lâu của nàng Kiều. Dung lượng thông tin thật lớn mà lại chỉ gói gọn trong hai dòng lục bát.

      2.3.2. Mỉa mai, giễu nhại, phê phán

      Cuối bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống, Hồ Xuân Hương viết:

          Ví  đây đổi phận làm trai được?

          Thì  sự anh hùng há bấy nhiêu!

           

      Ý thơ được tác giả sử dụng nghĩa lấp lửng, tạo cách hiểu nước đôi, nhằm mục đích mỉa mai đấng mày rầu, để từ đó tự khẳng định mình. Sự giễu nhại, ngầm ý phê phán của câu thơ toát ra từ tính hàm súc của nó.

      2.3.3. Người tạo hàm ý không trực tiếp chịu trách nhiệm về lời phát ngôn mà hàm ý là do người nghe suy ra.

      Chúng ta đã rất quen với câu thơ của Bà huyện Thanh Quan trong một giai thoại:

Người ta thì chẳng được  đâu

Ừ thì  ông Cống làm trâu thì làm

 

      Người xin làm trâu là một ông Cống, người phê là  Bà huyện (bà thay mặt chồng là ông huyện ở Thanh Quan), nghĩa nước đôi làm trâu thì làm hết sức độc đáo, thâm thúy nhưng người tạo hàm ý ấy không trực tiếp chịu trách nhiệm về lời nói của mình.

 

      Tóm lại, hàm ý, hàm súc là cách nói bằng nghĩa gián tiếp (tức là dùng câu có hình thức cấu tạo của kiểu câu này), nhưng thực chất để thực hiện mục đích khác như khen, chê, chào, cầu khiến, khuyên răn, gợi ý, …

 

      3. Kết luận

      Hàm  ý và hàm súc là hai thuật ngữ, hai khái niệm rất gần giống nhau trong ngôn ngữ tiếng Việt. Thực tế, việc ai đó sử dụng nhầm lẫn qua lại giữa hàm súc và hàm ý không phải là ít. Nhiều người hiểu hàm súc cũng là hàm ý và ngược lại, tuy nhiên như đã phân tích ở trên đây là cách nói đại khái (dù vẫn được chấp nhận) chứ không hoàn toàn chính xác về mặt thuật ngữ khoa học.

 

      Học sinh ở trung học phổ thông hiểu được  điều này để vận dụng vào việc phân tích, tiếp cận một tác phẩm là điều hết sức quan trọng và  cần thiết. Bởi ngôn ngữ nghệ thuật (nhất là trong tác phẩm văn chương) thường là “lời có cánh”, chính vì thế người tiếp nhận phải bình tĩnh tìm cách hiểu, cách cảm. Tính hàm súc trong thơ ca hay lời văn nghệ thuật thường ẩn dưới các biện pháp nghệ thuật tu từ, các hình thức diễn đạt mà tác giả cố ý tạo ra.

 

      Hiểu tường tận căn nguyên giá trị của tác phẩm, người đọc vừa đồng cảm và chia sẻ với tâm sự của nhà văn, vừa đóng vai là người chấp cánh cho đứa con tinh thần của nhà văn thêm sức bay cao và vươn xa hơn trong thời gian lâu dài và không gian rộng lớn.  


 

      TÀI LIỆU THAM KHẢO 

      1. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.

      2. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2008.

      3. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Ngữ văn 9, tập 1, Nxb Giáo dục, 2005. 

        

 

Gửi email trang này cho bạn bè Mở cửa sổ in bài viết này


Văn học và nhà trường ::
  •   “Tình già” của Phan Khôi là thơ mới?
  •   Vị thế Phan Khôi trong phong trào Thơ mới nhìn từ thực tại Thơ mới 1932-1945
  •   Hữu Loan, Đèo Cả
  •   Nhà văn Nguyễn Tuân
  •   Thanh Hải, nhà thơ như tôi từng biết
  •   GIÁ TRỊ THẨM MĨ TRONG TRÍCH ĐOẠN CHỊ EM THÚY KIỀU
  •   GIỌNG ĐIỆU NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ KẾT CẤU CỦA TIỂU THUYẾT THE WHITE TIGER (CỌP TRẮNG)
  •   THƠ ĐƯỜNG DỊCH CỦA CÁC TÁC GIA VIỆT NAM
  •   Văn học nhà trường có đổi mới từ những đề thi mở
  •   Định dạng hiện thực trong "Số đỏ"
  •  Xem tất cả các tin...

     
     

    Bản quyền 2006 (c) thuộc về PHONGDIEP.NET - Email: webmaster@phongdiep.net