Home >> Nội dung website >> KẾT NỐI >> Đường Văn
MỘT MÙA ĐÔNG NGHIỆT NGÃ
Nguyễn Trung Thành
MỘT MÙA ĐÔNG NGHIỆT NGÃ Tình yêu vốn có tính hướng thiện E. Mundek Hà với tôi là người một làng, cùng tắm nước sông Đà, cùng ôm bóng Tản Viên, cùng nghe chuyện cổ tích về Đồi Chùa huyền thoại. Nhưng chúng tôi không phải là „Thanh Mai Trúc Mã”, tôi vào bộ đội thì Hà mới lên một lên hai. Bố Hà với tôi là bạn học va cung la nguoi cung lang, anh hơn tôi gần chục tuổi, bởi học „nhảy cóc” nên tôi vào lớp mười năm mười ba tuổi, ngồi cùng bàn, cùng ghế với anh. Mười năm đi bộ đội, bốn năm ở chiến trường chống Mỹ, kết thúc tôi về học năm năm đại học ở Hà Nội rồi lấy vợ ở đó.
Một ngày tôi cùng vợ con từ Hà Nội về quê ăn cưới cô Hà, con người bạn học cùng làng, gặp Hà vợ tôi bảo: „Cái Hà duyên dáng như gái Hà Nội!”. Bố Hà, những năm chiến tranh, do là con liệt sỹ nên học hết lớp mười anh vào học Trung Cấp Sư Phạm Hà Tây, tốt nghiệp ra trường anh lại được về quê dạy học. Phấn đấu mãi, từ hiệu trưởng cấp hai được lên làm phó chủ tịch huyện, anh vội an bài cho cô „con gái rựợu” làm nhân viên của cửa hàng Bách Hóa Tổng Hợp huyện ”Mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu”.
Hà yêu tay lái xe của sở thương nghiệp tỉnh, hai người lấy nhau sinh được một mụn con gái. Thời kỳ kinh tế bao cấp vỡ tung, chồng Hà xin được chân lái xe „Qúa Cảnh”, khi thì đi Lào, lúc vào Miền Nam kinh tế gia đình cũng có phần khấm khá. Nhưng nghề lái xe đường dài, cánh Tài Xế không cần phải đẹp trai, học giỏi, cũng không cần phải dở những ngón nghề Cua Gái, đó vốn là môi trường chung đụng „Trăng Hoa”.
Biết vợ mình nhan sắc hơn người nhưng sớm tối đường trường, khó lòng từ chối những cô gái lái buôn sẵn lòng dâng hiến. Chồng Hà mắc bệnh Sida rồi lăn ra chết. Đem con về nhà ngoại, Hà mua cái máy khâu „Năm Con Bướm” của Tàu cũ rích về mở một cửa hàng may vá quần áo, lần độ qua ngày.
Bố Hà vì trình độ văn hóa có hạn, thời kỳ kinh tế bao cấp không còn, chính quyền cũng cần những người lãnh đạo giỏi về kinh tế ông xin nghỉ hưu non về cùng vợ chằm bặp mảnh vườn với mấy sào ruộng, quần quật mãi mà gia cảnh vẫn bần hàn túng thiếu. Năm 1991, tôi đi nghiên cứu sinh nước ngoài rồi ở lại Ba Lan làm kinh tế, ngòai căn nhà mà vợ chồng tôi mua được ở khu phố cổ nội đô, tôi còn gửi tiền về quê cho em trai tôi mua đất làm nhà đợi ngày điền viên thưởng ngoạn. Biết vậy, bố Hà gọi điện nhờ tôi đón Hà sang Ba Lan với mục đích xóa đói giảm nghèo.
Mùa hè năm ấy, khi con chim Vàng Anh cất tiếng hót líu lo, chim Bồ Các tha rác lên cây làm tổ, con chim Cu, „cúc cu” gáy gọi bạn tình thì khu rừng gần cợ ven sông Visoa bỗng trở nên sầm uất. Nhận được phon rằng đem tiền ra quán Bar ngoài chợ đón Hà, tôi mừng khấp khởi. Nhìn tôi đếm tệp Dollars dày cộm trao cho người đưa đường, Hà ôm chặt lấy tôi khóc nức, nước mắt Hà làm ướt sẫm vùng ngực khiến tôi nhột nhạt, tê tê. Từ đâu đó trong cõi vô minh của con tim côi cút, tôi bỗng trào dâng một tình cảm lâng lâng man mác cõi lòng?
Hà nghỉ chơi ít bữa, tôi đưa em lên Thành Cổ, ngồi trên cỗ xe ngựa, tôi va Hà sóng đôi ngắm tượng Chopin, viếng hình Người Cá, ai đi qua cũng tấm tắc khen, chúng tôi thật „xứng đôi vừa lứa”. It ngày sau, nhờ bạn bè tôi đã có một Kiosk ở cuối dãy Đường Tàu cho Hà ngồi bán. Nhớ hôm đón Hà ở quán Bar, chủ đường dây vốn là người bạn quen biết thở sinh viên, nói với tôi:
- Này ông bạn, tôi trao bé Hà còn nguyên vẹn cho ông, phải giữ lấy kẻo uổng công tôi đã ra lệnh cho bọn đàn em rằng không được động đến bé Hà, vợ của bạn tao, chúng nó mới buông tha, đẹp như cô ấy Bụt nhìn thấy cũng phải xuống „Tòa” huống chi lũ hổ đói!
Tôi thấy trong người mình có một luồng sinh khí chạy dọc sống lưng, buôn buốt, tê tê. Chúng tôi ở chung phòng „Trai đơn gái chiếc” nhưng vẫn giữ được khoảng cách, không thẹn với lòng. Hà biết tôi cưới giả một cô vợ Tây để lấy giấy tờ hợp lệ, Monika nữ sinh viên từ quê lên tỉnh học, em xinh đẹp lại trẻ tuổi hơn Hà. Hà buồn, ít nói ít cười hơn trước, thi thoảng Monika về nhà lấy tiền đóng học phí, em ngủ lại. Lúc đầu Hà lạnh nhạt nhưng rồi cũng dần quen và trở nên thân thiện.
Tình yêu vốn là một sinh thể thần bí, nó có ngôn ngữ riêng của nó, ví như một loài hoa biết quyến rũ đàn ong, nó mở bung cánh, khiến gió nặng tình mà đem mùi hương ngào ngạt bay đi khắp thế gian ban phát. Hà đã có nhiều bạn mới tới thăm, có người gọi tôi bằng chú, có kẻ lại gọi bằng anh. Trong số đó có một người, tên là Hải, theo lời anh ta kể thì gia cảnh khá éo le, quê Hải ở thành phố Hải Phòng, đi Ba Lan hai năm về trước, vợ ở nhà theo một ông giám đốc tư nhân chịu làm vợ bé mãi tận Sài Gòn, bỏ lại đứa con mười ba tuổi cho ông bà nội gồng gánh. Là trai đất cảng, Hải thường mặc cả „cây” NATO „ của lính Mỹ, túi đầy người nhưng đắt giá.
Hải gọi tôi bằng anh, vì kém tôi đôi tuổi, không buôn bán, đi giao hàng thuê cho một bà „Soái” nhưng nhan sắc đã úa tàn. Thường ngày Hải vẫn chở vợ chồng „Nhà Soái” đi về trên chiếc Audi đời mới, bóng lóang. Thi thỏang Hải mua, khi thì con cá trắm tươi, lúc thì cả nửa con dê thui bỏ lên xe đánh đến cho Hà làm cơm, nhậu nhẹt. Nhiều khi hứng trí, vào đên Parking trong sân chung cư mà Hải cứ bóp còi inh ỏi khiến Thổ Công, Thổ Thần nơi đây cũng phải hoảng sợ, khi ấy Hà bảo tôi:
- Lại cái lão Hải khoác lác! Chẳng khi nào trật, một lát sau đã thấy Hải xuất hiện với lời mở đầu oang oang: - Chào mỹ nhân, ông chú đâu, phiền em làm cho con cá (miếng thịt) để anh em tôi giải sầu cô độc! Dần dà Hà cũng quen với lối sống ấy và chấp nhận nó như một mẫu người mới lạ, có cá tính. Một hôm Hà nói với tôi: - Cháu chỉ kén chồng chứ không kén „Bồ Bịch” kẻo „Sống thì làm vợ người ta, chết về âm phủ làm ma không chồng”! Tôi cho rằng tư duy ấy là phù hợp với Hà.Hải vốn người thanh mảnh, lại nữa có nước da bánh mật do dãi dầu mưa nắng ít năm của đời người Lính Thủy Đánh Bộ của quân đội Việt Nam, lăn lộn ngoài hải đảo, Hà bảo: - Gớm cái lão Hải sao trông giống chú thế, từ dáng người tới nước da đến khuôn mặt, ở chợ ai cũng bảo chú và Hải là anh em sinh đôi?
Tôi hiểu đây không hẳn là lời chê bôi mà là một lời khen ngược. Một ngày nọ, như thường lệ khi chợ sắp tan, tôi ra dọn hàng giúp Hà, nhưng hôm nay ngay từ đầu dãy, mấy bà mấy chị thấy tôi thì ai cũng nói: - Thôi từ nay ông chú khỏe rồi, không phải ra dọn hàng cho bà cháu nữa, người ta đã kiếm được một chàng Ngự Lâm Pháo Thủ! Có bà lại nói: - Uí chao, trai khôn lấy vợ gái lớn gả chồng, đó là quy luật của muôn đời, có gì là lạ? Nhưng có người biết đôi chút về hòan cảnh của tôi và Hà thì nói khác: - Công anh bắt tép nuôi cò, bây giò cò lớn cò dò lên cây, tiếc thay, tiếc thay!
Rồi Hà và Hải đến với nhau keo sơn, thắm thiết, Hà trẻ ra và hoạt bát hẳn lên, thi thỏang Hà lẻn vào toalet soi guong, tỉa tót. Với tôi, Hà tỏ ra niềm nở vui cười, lúc nấu cơm, khi rửa bát tôi nghe được tiếng hát se sẽ của Hà. Phải chăng đó là phép nhiệm màu của tình yêu mà Thượng Đế đã đặc ân ban phát cho loài người? Đối với tôi, mùa hè năm ấy thật chẳng lành, số là vợ tôi ở Việt Nam vì phải ký vào tờ đơn ly dị giả để tôi cưới giả Vợ Tây, vả lại hay tin Hà sang Ba Lan ở với tôi, nàng quẫn trí bỏ đi „Bước Nữa”, khiiến hai con tôi bơ vơ không nơi nương tựa. Hay tin động trời, Hà khóc, đêm ấy Hà nói: - Chị ấy là gái Hà Nội nhưng rất giản dị lại chân tình. Đối với Hà đó là mẫu người Thần Tượng, đáng học hỏi. Một mình cáng đáng nuôi dạy hai con để chú yên tâm ra nước ngoài học tập. Bây giờ mất hết cả rồi, chú phải tính sao cho quãng đời còn lại?
Từ hôm đó Hà không đi chơi với Hải nữa, ngoài chợ Hà thuê hẳn một anh kéo xe, chiều đến dọn hàng, cài khóa Kiosk không phiền đến Hải. Hà mua về cho tôi một bộ quần áo đen túi hộp của lính đặc nhiệm Anh, bắt tôi mặc thử, Hà ngắm trước ngắm sau rồi véo vào mũi tôi khen đẹp. Từ hôm đó tôi mặc mãi bộ đồ này, cánh Bảo Vệ ở chợ Stadion gọi tôi là Nijna, một trường phái võ sỹ đạo Nhật Bản. Tôi yêu bộ đồ đen với cái tên gọi ấy. Một buổi chiều ngồi ăn cơm, Hà nhắc khéo: - Chú còn nhớ hôm đón cháu ở quán Bar, anh đưa đường bạn chú nói gì không? Tôi quá nhớ nhưng vờ không nhớ: - Anh ta có nói gì đâu? - Anh ta bảo cháu là vợ chú, mà quả thật suốt một chặng đường vượt biên từ Moskva tới Minsk rồi tới Warszawa, phải ăn chực nằm chờ cả tháng, nhưng cháu thường được họ che chở, phần ăn và mọi thứ cũng hơn người. Một hôm có thằng định bờm xơm cháu thì thằng bên cạnh nói luôn: „Chớ hỗn xược, đây là vợ của bạn Thủ Lĩnh”. Lúc ấy cháu có hơi ngượng, nhưng quả thật chú vẫn là mẫu người để đàn bà theo đuổi, cả gia đình bố mẹ và cháu đều yêu quý và mến phục chú!
Tôi lặng thinh để nuốt nỗi đau khó nuốt, để nhâm nhi lời tỏ tình chân thật mà bị cách ngăn bởi những rào chắn vô hình. Một hôm Hà rủ tôi đi Carrefou, siêu thị này mới quảng cáo những mẫu mã quần áo model của Anh, Pháp, Mỹ. Khi thấy Hà chọn hai chiếc áo thun của hãng Adidas, một chiếc màu xanh da trời, còn chiếc kia màu huyết dụ điểm xuyết hai vạt trắng, Hà mặc thử, thật tuyệt vời với bộ ngực no tròn và cái cổ cao trắng trẻo, gấu áo bo lấy vòng eo như để thoát khỏi nút thắt, cái mông mở một cung tròn uốn lượn theo một đường cong hòan mỹ rồi từ từ buông thả xuống đôi chân no căng thuôn dài như hai cây chuối tơ non trồng ngược, ôm sát lấy lần vải của chiếc quần Jean. Thật là hòan hảo.
Cô gái bán hàng người Ba Lan rướn cao đôi mày cánh cung với đôi mắt màu lam ngọc trong veo rồi ghé sát tai người bạn trai đồng nhiệm thì thầm, họ cùng gửi tới Hà qua đôi mắt xanh của họ lòng thiện cảm và sự thán phục cho sắc đẹp của một cô gái Việt Nam Tôi tin, với thân hình cực phẩm này không một người đàn ông nào là không mơ ước chiếm hữu, kể cả những chàng trai choai choai, mói lón!
Rồi một ngày buồn bã đã xẩy ra, hôm ấy tôi đi làm đêm về chẳng thấy Hà đâu, căn phòng chống vắng, hoang tàn. Nhưng linh cảm bảo tôi, Hà không rủi ro. Trên bàn một phong thư bút tích của Hà để lại: „ Chú thân yêu, tình yêu đơn phương chỉ là thức nhắm, người ta không thể lấy thức nhắm thay cơm. Phải xa chú Hà rât tiếc và đối với chú Hà muốn giữ lại một kỷ niệm tốt đẹp. Đó là tình yêu mà Hà giành cho chú hết lòng!”
Tôi đổ vật xuống giường, mặc cho hai dòng lệ lăn chảy, mằn mặn đăng đắng.Đâu đó trong cõi vô minh lại vụt hiện về ngàn ngàn băng tuyết trên những ngọn núi cao của Hymalaya mà một thời tôi đã giam mình trong các hang đông, chùa chiền và những làng bản nghèo khổ để nung nấu khát vọng viết thành công luận văn tiến sỹ: „Nền Văn Minh Tây Tạng sau Thíchca Mauni” của đại học Sorbonne giao phó. Nhớ lại sư phụ của tôi, đại Lama Jigme có nói: ”Nếu con muốn tìm lại chính mình thì trước hết con hãy quên đi chính mình!”
Thời gian như ngừng trôi, chỉ có chiếc đồng hồ tích tắc đều đều và những chiếc kim cứ quẩn quanh quay bên con số. Hỏi có ai nhìn thấy Trái Đất quay không? Thưa, không, nhưng loài người chỉ muốn làm Thần Thánh, họ muốn biết tất cả bầu trời vũ trụ, nhưng chỉ có chính họ, chính cái Tôi là họ không biết hoặc không muốn biết. Họ lấy ngày đức chúa Jechu giáng sinh để định ra ngày tháng, lấy một đời người bằng ba vạn sáu ngàn tờ giấy mỏng, nhỏ như bàn tay chia làm trăm tệp đem xén bằng tằn tặn rôi treo ở tường, đặt ở bàn đe mỗi ngày bóc đi một tờ ném vào sọt rác.
Họ nói, đó là một mẩu đời đã chết trong 24 tiếng đồng hồ. Thế có vô lý không, khi mà trên tờ giấy poluya đó chẳng chỉ ra đâu là Ác, đâu là Thiện và đâu là Tình Yêu. Tờ giấy mỏng manh ấy cứ hiện lên trong đầu tôi những giành giật phũ phàng, sự lừa đảo ác độc, những mưu toan nhỏ to, những cuộc chiến tranh tàn khốc.
Rồi những tờ lịch cứ thế rơi, gió cuốn đi hay lửa thiêu đốt. Bóc mãi, bóc mãi rồi một ngày chỉ còn hai tờ giấy In chữ đỏ cuối cùng, họ bảo đó là tết và xi xao đi sắm tết. Họ đốt pháo ăn mừng lúc giao thừa, họ ăn mừng cái gì, ăn mừng của ba trăm sáu mươi ngày đã chết ư?
Một sử gia Anh, ngài Arno Toynbee nói thế này: „Ngay từ khi chào đời, mỗi chúng ta đều mang trên người một bản án Tử Hình, mà điều không thể tránh khỏi là bản án ấy trước sau gì cũng được thi hành”. Trong kinh Phật có nói: „Sự chết là bắt đầu sự sống”, còn trong kinh chúa Jechu, nói:”Chết sẽ được phục sinh, cả người Hiền, kẻ Ác”, có lẽ họ ăn mừng vì sắp được Phục Sinh? Tôi ngước nhìn tấm lịch treo tường, bỗng giật mình chỉ còn hai tờ chữ đỏ nữa, như vậy hôm nay là ba mươi Tết? Không một ai ở bên, cô đơn và hưu quạnh giữa căn phòng trống trải mà trước đó sáu tháng Hà nằm ở kia, trên chiếc giường lò xo mà tôi mới mua về ngày đón em, còn tôi nằm đây trên chiếc đệm mút này!
Bỗng cánh cửa bật mở, tôi hỏang hốt cho sự vô ý của mình không cài cửa chốt then để Thần Cô Đơn đến „xông nhà”. Nhưng không, không phải Thần Cô Đơn mà là Hà, em Hà của tôi. Hà quẳng va ly xuống giữa nhà, ôm chặt lấy tôi, khóc. Thế mới đúng chứ, khóc đi em, khóc để tiếc thương cho cái chết đã qua. Tôi ôm chặt lấy Hà như ôm chặt cái chết tái sinh, như ôm lấy một trong bảy nàng tiên mà kinh Coran đã nói tới. Hà lại véo vào mũi, đầu ngả vào ngực tôi, mắt em ngấn lệ, nói rành rẽ: - Hà đã chia tay với Hải rồi, chiều nay y đã xách va ly về với mụ Soái của y! Vỗ vỗ vào lưng em, tôi nói: - Tết rồi Hà ạ, có em tôi rất vui!
Nhưng Hà chẳng vui, em nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ, ngoài đó bão tuyết đang thét gào, một đôi chim Cu đang rúc đầu vào nhau gật gù nói những gì không rõ. Nhưng tôi biết, Hà biết, chúng đang tựa vào nhau để qua đi một mùa đông nghiệt ngã! Warszawa, tang 12/2009
|

|
|