Tìm Người lên Kinh năm ấy
Sáng rời Hương Sơn, đêm trấn Vĩnh Dinh
Sớm vượn hú ngàn chiều chuông gióng sóng
Tuổi cao đi thuyền, đi bộ, đi cáng
Rẽ lối nhân gian bởi lệnh Chúa vời
Ký sự lên Kinh vừa đi vừa chép
Viết sách làm thơ trị bệnh cứu người
Bệnh hủ bại công hầu
Can gì đến thuốc !
Bệnh lũ kiêu binh trở giáo lên lầu
Bệnh đám con trời bệnh nơi vương phủ
Thừa mứa cửa quyền tan hoang phường phố
Thuốc nào chữa được bệnh thời thế xưa ?
Loài thảo dược cũng chẳng nương tà khí
Huống nữa lương y tâm ý đạo trời
Đọc nghìn trang sách hiểu nghìn chứng trạng
Lánh bụi phồn hoa tìm chốn rừng cây
Thương cả nỗi đau hang cùng ngõ hẻm
Mới mong chẩn trị - mới mong làm thầy
Án thư đặt trên thạch bàn Hà Tĩnh
Hải Thượng Y tông tâm lĩnh truyền đời
Trở lại chốn xưa không còn phủ Chúa
Tìm về phố cũ tên người y nguyên
Gặp ở giảng đường gặp nơi y viện
Một ngày Hải Hậu cho tôi nhìn lên
Tượng đài danh sư áo bạc râu bạc
Giữa những bệnh nhân giữa những người thầy
Hải Thượng Lãn Ông cuộc đời ghi tạc
Biết mấy lo toan y đức còn đây !
Bệnh viện Hải Hậu, ngày 6/6/2009
Phạm Trọng Thanh
Lời bình của Phạm Ngọc Khảnh:
Báo Gia đình và xã hội tổ chức cuộc thi sáng tác thơ với chủ đề "Vì hạnh phúc cuộc sống", phục vụ sự nghiệp y tế và bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Hàng nghìn tác phẩm thơ gửi về tham dự. Ban giám khảo cuộc thi đã chọn ra 10 tác phẩm xuất sắc, trong đó nhà thơ Phạm Trọng Thanh trúng giải cao (giải nhì), với bài "Tìm người lên kinh năm ấy", viết về tấm gương danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791). Giải đã công bố vào cuối tháng 2 vừa rồi.
Bài thơ không chỉ thể hiện chủ đề y nghiệp, mà còn chứa đựng biết bao nỗi niềm thời cuộc đã qua, khiến ta không thể không động lòng ! Từ cái buổi nhà thơ "Gặp ở giảng đường gặp nơi y viện / Một ngày Hải Hậu cho tôi nhìn lên", hướng lên "Tượng đài danh sư áo bạc râu bạc". Phạm Trọng Thanh đã gửi vào thơ của mình nhân tình thế thái, xa xưa, thời Lê - Trịnh, cuối thế kỷ XVIII, cuộc tranh ngôi đoạt quyền dữ dội giữa các tập đoàn phong kiến, một thời kỳ khủng hoảng trầm trọng của xã hội phong kiến Việt Nam. Mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị cũng như mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với nhân dân bộc lộ gay gắt chưa từng thấy, nhiều sự kiện lịch sử xảy ra dồn dập và kéo dài triền miên... Thánh tổ Trịnh vương Trịnh Sâm kiêu căng, xa xỉ, phi tần thị nữ kén vào rất nhiều, mặc ý vui chơi thoả thích, tư thông với nữ tì Đặng Thị Huệ, do được ân sủng Thị Huệ tha hồ khuynh đảo trong ngoài. Bè nọ phái kia mưu sát lẫn nhau, tranh giành ngôi Chúa giữa thế tử Tông và vương tử Cán, "Lũ kiêu binh trở giáo lên lầu". Rồi Đặng Mậu Lân ỷ thế Đặng Thị Huệ coi trời bằng vung tha hồ trác táng "Bệnh đám con trời bệnh nơi vương phủ". Tiếp sau trong nước rối loạn, vua Lê chúa Trịnh, chính quyền đảo điên, Nguyễn Trịnh phân tranh, nhân dân đau khổ, nhân dân khởi nghĩa khắp nơi... đều lấy danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh. Căn bệnh xã hội ấy thuốc thang làm sao cứu chữa, "Loài thảo dược cũng chẳng nương tà khí / Huống nữa lương y tâm ý đạo trời", đây là 2 câu thơ "thần" nâng cả bài thơ lên thành một thi phẩm đầy chất nhân văn !
Hải Thượng Lãn Ông là người tài cao mà thức thời đạt thế, cương quyết bỏ khoa cử, bỏ đường quan lại, đem tài năng chí khí xây dựng sự nghiệp trên nền y học, lánh vào quê mẹ Hương Sơn - Hà Tĩnh, để "Đọc nghìn trang sách hiểu nghìn chứng trạng / Lánh bụi phồn hoa tìm chốn rừng cây". Suốt trong thời gian hơn 30 năm, ông nỗ lực phấn đấu cho sự nghiệp ấy và đã thành công "Án thư đặt trên thạch bàn Hà Tĩnh /
Hải Thượng Y tông tâm lĩnh truyền đời". Ông đã xây dựng được một nền y học Việt Nam toàn diện, về lý luận, về phương pháp điều trị, về dược thảo - thiên về dùng thảo dược Việt Nam.
Năm 1781 (niên hiệu Cảnh Hưng 42). Trịnh Sâm cho triệu ông về Thăng Long để chữa bệnh cho Trịnh Cán. Tuy tuổi cao sức yếu nhưng không thể chối từ "Tuổi cao đi thuyền, đi bộ, đi cáng / Rẽ lối nhân gian bởi lệnh Chúa vời". Chính dọc đường dài ngày đêm lặn lội ấy ông đã viết nên tác phẩm "Thượng kinh ký sự" một tập bút ký ghi lại hành trình lên kinh đô vào phủ Chúa, đã góp vào Hải Thượng Y tông tâm lĩnh (những lính hội tâm huyết trong ngành y), trước tác nổi tiếng của Hải Thượng Lãn Ông được xem như pho bách khoa thư về y học nước nhà bao gồm 28 tập, 66 quyển, qua đây thể hiện Hải Thượng Lãn Ông vừa là bậc danh y, vừa là con người bút pháp văn chương thông tuệ.
Ông đã nêu một chuẩn mực y đức đầu tiên là phải "Thương cả nỗi đau hang cùng ngõ hẻm / Mới mong chẩn trị - mới mong làm thầy". Bài thơ chỉ bấy nhiêu lời mà chất chưa bao nhiêu là tình, bao nhiêu là nghĩa để lại không chỉ cho những người thầy thuốc Việt Nam, mà còn cho cả chúng ta cùng suy ngẫm, nghĩ về ngày trước soi vào hôm nay ! Tìm người lên kinh năm ấy, Phạm Trọng Thanh lại có nữa một bài thơ hay. Thật chí lý, chí tình !...
Nam Định ngày 31 tháng 3 năm 2010