|
Home >> Nội dung website >> KẾT NỐI >> Tác phẩm - Dư luận
“TRĂNG NGHẸN” SỰ VÔ TÌNH TRƯỚC CUỘC SỐNG
HIỀN LƯƠNG
“TRĂNG NGHẸN” SỰ VÔ TÌNH TRƯỚC CUỘC SỐNG
Bài thơ TRĂNG NGHẸN của tác giả Hoài Tường Phong đoạt giải Nhất cuộc thi thơ ĐBSCL - 2009 đã có nhiều ý kiến khen chê trái ngược nhau.
Phongdiep.net xin giới thiệu bài bình Trăng nghẹn của tác giả HIỀN LƯƠNG
Bài thơ Trăng nghẹn được tách ra tám khổ, tổng cộng 32câu. Có thể chia ra ba phần. Phần thứ nhất, hoài niệm ( hai khổ). Phần thứ hai, thực tại của thân phận (bốn khổ). Phần thứ ba, trước thực tại xã hội ( hai khổ).
- Phần một, hoài niệm: Mở đầu bài thơ tác giả bùi ngùi đau đớn kể lại rằng, ngày mẹ khai hoa nở nhụy mình ra là một ngày u ám, mưa tầm gió tã. Dẫu biết đó là đêm rằm, lẽ ra trăng sáng lắm! Nhưng phận mình bạc phước, không hưởng được lộc trời thì làm chi có được hậu vận thanh nhàn! “ Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa / Lúc chào đời đã lỡ hẹn vầng trăng viên mãn”.Có thể đó là cái điềm báo trước sự buồn khổ, đẩy kiếp người suốt cuối bài thơ, qua hai chế độ vẫn không có lối thoát! Chế độ thứ nhất, chế độ Mỹ ngụy, cái thời “ngày xưa” mẹ sinh ra, ấy là “Vùng tản cư hồi này ruộng hoang nhà trống” rõ ràng là nhân vật “ tôi” sinh ra trong cảnh chinh chiến loạn ly, thật đáng thương và tội nghiệp. Bị phủ trùm lên màn đêm của chế độ Mỹ ngụy và “ cấu kết” với màn đêm của “mưa gió” thì cho dù có lạc quan bằng mấy “tôi” cũng không thể nghĩ tới vầng trăng “ viên mãn” được. Đó như một quy luật cuộc sống, và tác giả đã gắn kết hai vế vô thức và hữu thức thành xâu chuỗi đeo đẳng vào kiếp người trong khoảng trời “ ngày xưa” ấy.
Nếu như khổ thơ đầu đỗ lỗi cho “ mưa gió” “giặc dã” nên “ lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn” thì sang khổ thơ thứ hai lại than thân trách phận rằng, “ tôi lớn lên quê mùa như cây tạp rừng hoang” có nghĩa là thiếu sự chăm sóc giáo dục của người lớn ( kể cả bậc sinh thành) để cho “ tôi” nổi trôi theo bản năng, nuôi bản thể? Bởi thế nên “tôi” ngây ngô thiệt thà, mới chịu thua thiệt đủ đường. “Không biết lời bải buôi ….không biết mua lòng người khác” và tác giả hạ một câu “xanh rờn” ” … thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai” Câu thơ này thuận với “triết lý” kẻ đểu giả xỏ lá ba que, cổ xúy cho những tư tưởng bạc nhược biến chất. Nhưng với đạo làm người, với công tâm, với nhân dân là phi lý và nghịch lý.
Chỉ có những kẻ biếng nhác nhưng lại muốn giàu nhanh mới nghĩ ra mánh khóe “ Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm” mà thôi! Ân hận vì “lỡ” chào đời vào cái đêm “trăng nghẹn” ấy, sao chiếu mệnh chiếu nhầm vào lỗ đen, coi như “sinh bất phùng thời”. Chỉ còn nước “ dối lừa” thiên hạ may ra không “thua thiệt”. Đấy cũng là một kiểu bản ngã của kẻ “cùng đinh”. Và cũng chỉ mới cái nhìn đầu đời của “tôi” trước cuộc sống.
- Phần hai, thực tại của thân phận: - Từ đây nhân vật “tôi” rũ áo nhà, phôi pha chất quê “ra thành” “đua chen” cuộc sống. Ta theo mạch thơ thử tìm “tôi” đã và đang làm gì trước cuộc sống mới lạ này. Và rồi “tôi” cũng đã bon chen nơi phố thị đã hơn “mười năm” chớ đâu có ít ỏi gì! Những tưởng trong khoảng thời gian ấy, “tôi” đã học được nhiều, hiểu được nhiều, nghe và nhìn được nhiều, lớn hơn lên cả tuổi tác lẫn nhân cách. Nhưng rồi “tôi” quá thất vọng trước sự ham muốn thái quá của mình “ nhởn nhơ hoa bướm”. Rốt cuộc, vẫn hoang hoải như cái thuở “giấc mộng kê vàng”. Vẫn u u minh minh chưa thấy hết bộ dạng mình là ai: “tưởng đã thoát được kiếp ngài” và tâm hồn thì vẫn “ngơ ngác” như buổi đầu mà thôi “đâu thêm lớn tâm hồn”. Nếu có được, chỉ được mỗi “chút phù hoa” mà thôi. Chút phù hoa ấy chẳng bõ bèng gì trước sự hau háu “đổi đời”. Nghĩa là “tôi” đã đứng trên bờ vực của sự bế tắc cuộc sống.
-
- Nhìn thị thành đâu cũng thấy một màu ảm đạm. Không tin và không hiểu nổi thân phận mình rồi sẽ trôi dạt về đâu?. Bất lực và chán chường trước cuộc sống hiện tại, nhiều khi “tôi” muốn về quê, tìm lại chốn bình yên may ra dịu bớt cảnh chen đua nơi phố thị. Và rồi “tôi” cũng đã về quê thật, nhưng oái oăm thay, khi về đến quê thì quá ngỡ ngàng trước một bức tranh quê “đổi màu” nhanh chóng. Quê bây giờ đâu còn cảnh hiền lương như xưa, thay vào đó là nhịp sống “loạn xà ngầu” chẳng còn tôn ty gì nữa : “ Gái mười bảy đã lấy chồng” …” trai đòi vợ”, “ nách con mua chịu rượu”…Và thực sự thất vọng khi nhìn cô gái “mắt ướt” thuở nào, bây giờ “ bẻn lẽm ngó bàn chân”. Chừng đó câu chữ, đủ dồn nén bao chua cay và ái ngại cho thân phận con người quê yếu đuối đến đau lòng. Tự ty vì nghèo, vì nợ, vì yếm thế, buộc họ phải “bẻn lẽn” dồn nén nỗi đau xuống bàn chân của chính mình, thì làm sao nhấc hồn lên cho được? Chưa hết, bức tranh quê được tác giả phác họa thêm cảnh “ gái lấy chồng Đài Loan” cũng khá ấn tượng.
-
- Liệt kê ra những “thành quả” không dấu diếm, không che đậy và cũng chẳng cần “thuần phong mỹ tục” gì nữa. Liêm xỉ hay vô liêm xỉ, mặc! Miễn sao có “ xênh xang lụa là hàng hiệu… nhà xây …tiền báo hiếu …” Và cuối khổ thơ này tác giả khẳng định rằng những việc làm trên của những cô gái “rời quê” góp phần làm“ khởi sắc một vùng quê …” nếu không vẫn sẽ là u ám! Chốt khổ thơ này, tác giả cũng tự húc vào đường hầm bế tắc, đẩy thân phận con người vào thế cùng quẫn, mất phương hướng chỉ nghĩ và làm những việc trái chiều với đạo lý.
-
- Phần ba, trước thực tại xã hôi: Như phần thứ nhất đã nói, “tôi” chào đời “ vùng tản cư ….ruộng hoang nhà trống” nghĩa là trong vùng chiếm đóng của Mỹ ngụy. Mưa gió và chiến tranh đồng chủ mưu làm “tôi lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn” sự trách móc ấy là có cơ sở. Nhưng sang đầu thế kỷ hai mốt ĐBSCL phát triển nhanh chóng chưa từng có trên nhiều lĩnh vực, thì tác giả chỉ có nhìn thấy bốn cái nhất: “ nhất ngậm ngùi” “nhất cá ba sa” “ nhất văn hóa thấp và nghèo khó” “nhất cô gái lấy chồng xa” Từ cái nhìn hạn hẹp và bế tắc đó, tác giả Hoài Tường Phong đẩy khổ thơ này “đi hoang” vì không minh định được thật giả đúng sai trước cuộc sống thực tại. Càng không thể chấp nhận hiện thực phê phán theo kiểu “chửu đổng” cho hả giận. Trong thực tế, ở đâu đó vẫn còn tồn tại “yếu kém” nhưng cũng chỉ là thiểu số, hạn hẹp mà thôi.
-
- Không thể lấy tiểu tiết làm lu mờ đại cục, như thế hóa ra lấy tay che mặt trời sao đặng? Tác giả đã mắc căn bệnh tối kỵ đối với người làm thơ là “ tự nhiên chủ nghĩa” làm ra loại thơ dể dãi, trần truồng, phí phạm! Bài thơ không còn là lát cắt nữa mà là lát chém vào thế giới quan. Kết thúc bài thơ tác giả lại điệp khúc lại điệu “buồn” cho đoạn đời sau, chẳng sáng sủa hơn đoạn đầu đời là mấy. Điệu buồn đó về phương diện cá nhân có thể thể xẩy ra, vì “tôi” mới sinh ra đã không được may mắn (duy tâm) và không biết lừa dối ai (duy lý) có thể thông cảm được. Nhưng với quê hương “trăng nghẹn hoài chưa tỏa sáng” đó là cái nhìn lệch pha vô cảm, vô tình trước cuộc sống“Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ / Vầng trăng nghẹn hoài chưa tỏa sáng một vùng quê.”
- Bài thơ TRĂNG NGHẸN của tác giả Hoài Tường Phong làm theo theo thể tự do không vần điệu, các khổ thơ bố cục được ý của tác giả, ngôn ngữ bình dân, dễ đọc, dễ hiểu. viết theo lối tự sự trãi lòng trước cuộc sống. Song chừng đó vẫn chưa đủ “trụ” bài thơ đứng vững. Bởi cấu trúc của tứ càng về sau càng lỏng lẻo và đi vào bế tắc, không phát triển thành mạch nguồn chủ đạo. Dùng hình tượng “trăng nghẹn” (nghĩa bóng) để ám chỉ cuộc sống thực tại ( nghĩa đen) nhưng không biết làm “bóng chữ” theo phương pháp ẩn dụ ( ví ngầm) ẩn ngữ ... một phương thức tu từ dùng khi có điều không tiện nói, vì phải kín đáo, tránh thô tục, khi có cảm xúc mạnh, ngọt ngào, uất ức …Đằng này lại cứ băm bổ nói cho đã nư, cho bỏ ghét câu chữ cứ thuồng luồng dễ gây phản cảm cho người đọc. Mạch thơ cũ, ý tưởng cũ, câu chữ cũ vẹt gót theo những bi lụy của thân phận, được kê dưới mảnh vỡ của quá khứ, chông chênh dễ quên, dễ vỡ. “Trăng nghẹn”không thấy dấu hiệu nào bút pháp nghệ thuật, chỉ thấy những liệt kê, kể lể, trách móc …. như ai đó đang bất mãm trước cuộc sống của mình.
|

|
|